BẮC GIANG ƯU TIÊN PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP TRỌNG ĐIỂM

Công nghiệp Bắc Giang thời gian qua đạt mức tăng trưởng vượt bậc do có sự đóng góp quan trọng của một số ngành công nghiệp chủ yếu: điện tử, may mặc, cơ khí lắp ráp ô tô, xe máy,

                                   Description: http://sct.bacninh.gov.vn/bacninh-portlet/html/portlet/news_detail/img/icon-a+.png Description: http://sct.bacninh.gov.vn/bacninh-portlet/html/portlet/news_detail/img/icon-a+.png

Giai đoạn 2011-2019, công nghiệp Bắc Giang đã luôn duy trì sự phát triển với tốc độ tăng trưởng cao. Tốc độ tăng trưởng GTSX bình quân giai đoạn 2011-2019 đạt 29,8%/năm. Quy mô GTSX năm 2019 đạt 175.246 nghìn tỷ đồng (giá so sánh 2010), gấp hơn 10 lần năm 2010. Năm 2010 giá trị sản xuất công nghiệp (tính theo giá so sánh 2010) đạt 16.758 tỷ đồng, năm 2015 đạt 62.626 tỷ đồng và năm 2019 đạt 175.245 tỷ đồng. Kim ngạch xuất khẩu năm 2010, 2015 và 2019 lần lượt là 332,9 triệu USD, 2.610 triệu USD và 9.179 triệu USD, tốc độ tăng trưởng bình quân giá trị xuất khẩu giai đoạn 2011-2019 đạt 44,6%, là một trong các tỉnh có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao trong toàn quốc. Sự tăng tr­­­­ưởng của sản xuất công nghiệp đã góp phần quyết định vào sự thay đổi cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hư­­­­ớng tích cực, ngành công nghiệp - xây dựng tiếp tục xu hướng tăng mạnh: từ 33,45% năm 2010 lên 42,5% năm 2015 và 57,6 năm 2019 (trong đó công nghiệp lần lượt chiếm tỷ trọng là 24,05%, 33,9% và 48,8%); dịch vụ giảm từ 30,69% năm 2010 xuống 28,8% năm 2015 và 24,3% năm 2019; nông - lâm - thủy sản giảm mạnh, từ 33,45% năm 2010 xuống 26,1% năm 2015 và 15,8% năm 2019.

Ngành Công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng chi phối và ngày càng tăng trong sản xuất công nghiệp toàn tỉnh, từ 76,6% năm 2011 lên 97,4% năm 2019. Các ngành sản xuất khác do tỷ trọng nhỏ, có mức tăng trưởng không cao, do vậy tỷ trọng có xu hướng giảm dần; trong đó ngành khai thác mỏ có mức giảm cao nhất từ 9,7% năm 2011 xuống còn 1,1% năm 2019; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt từ 12,8% năm 2011 xuống còn 1,3% năm 2019; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý xử lý rác thải chiếm tỷ trọng không đáng kể, năm 2019 chỉ là 0,2% trong cơ cấu toàn ngành.

Công nghiệp Bắc Giang đã hình thành một số ngành công nghiệp chính, trọng điểm là: (1). Điện tử: Sản phẩm linh kiện điện điện tử chủ yếu là linh kiện điện thoại, thiết bị ngoại vi, tế bào quang điện và các mảng mạch điện tử phục vụ cho lắp ráp thiết bị điện tử… Trong giai đoạn 2011-2019 có nhiều dự án đầu tư nên giá trị sản xuất có mức tăng trưởng cao, bình quân giai đoạn đạt 49,6%/năm. Đây là sản phẩm có giá trị xuất khẩu cao, tăng trưởng xuất khẩu sản phẩm này bình quân đạt trên 50% năm. (2). Ngành công nghiệp cơ khí, lắp ráp ôtô xe máy: Phát triển khá nhanh, ngoài những doanh nghiệp cơ khí lớn trên địa bàn như Công ty cổ phần Cơ khí hóa chất Hà Bắc, Công ty cổ phần cơ khí xây dựng số 2, Công ty cổ phần cơ khí xây dựng CPT, Công ty Cơ khí Quế Sơn, Công ty cổ phần dịch vụ và thương mại Thống Nhất.. còn có sự tham gia của các doanh nghiệp FDI (Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc). Các sản phẩm cơ khí chủ yếu của DN FDI như: sản xuất khuôn mẫu, ốc vít, bơm xi lanh áp lực dầu, thiết bị xử lý nước thải, các sản phẩm cắt gọt chính xác… được đánh giá đạt chất lượng cao và đã được tiêu thụ rộng rãi trên thị trường khu vực và thế giới. Còn đa số các sản phẩm cơ khí Bắc Giang là các sản phẩm giản đơn, giá trị thấp, chủ yếu phục vụ sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của dân cư. Tốc độ tăng trưởng bình quân sản phẩm cơ khí chế tạo giai đoạn 2011-2019 tăng 40,8%/ năm. (3). Ngành công nghiệp dệt may, da giầy: Đây là ngành đã thu hút được một lượng lớn lao động (70.916 lao động - chiếm 30,6% lực lượng lao động công nghiệp toàn tỉnh) tại các địa phương trong tỉnh và các tỉnh lân cận, tập trung chủ yếu là doanh nghiệp ngoài nhà nước và một số DN FDI.. Một số cơ sở sản xuất thu hút nhiều lao động như Công ty cổ phần - Tổng Công ty May Bắc Giang (BBG, LGG, LNG), Công ty may xuất khẩu Hà Phong...Với xuất phát điểm thấp, sản xuất dệt may đã có những bước phát triển lớn. Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm giai đoạn 2011-2019 đạt bình quân 17,3/năm%. Giá trị sản xuất công nghiệp 3 ngành này đã chiếm 88,9% giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh. Tuy nhiên trong quá trình phát triển hình thành ba nhóm ngành công nghiệp trong điểm còn có nhng hạn chế:

          + Đối với ngành cơ khí chế tạo thì các doanh nghiệp cơ khí nhà nước chậm đổi mới, các doanh nghiệp tư nhân quy mô nhỏ, ít quan tâm đến đầu tư vào ngành cơ khí. Việc đầu tư trong ngành cơ khí còn ít và mang tính chất phân tán, khép kín trong từng doanh nghiệp. Đầu tư cho lĩnh vực khác rất nhiều còn ngành cơ khí lại ít. Trong khi đó cơ khí là ngành đầu tư rộng, gồm cơ khí nông nghiệp, giao thông, xây dựng, chế tạo máy, y tế, v.v... Các loại hình này sẽ có hàng nghìn sản phẩm khác nhau và có 7 bước bắt buộc, gồm chế tạo, thiết kế khuôn mẫu, tạo phôi, gia công cắt gọt, nhiệt luyện, lắp ráp, thử nghiệm xuất xưởng mới trở thành hàng hóa. Tuy nhiên, tại Việt Nam nói chung và Bắc Giang nói riêng mới có một khâu lắp ráp, những khâu còn lại không quan tâm, đầu tư đúng với yêu cầu của ngành.

          + Đối với ngành công nghiệp thiết bị điện, điện tử thì số doanh nghiệp trong tỉnh tham gia vào sản xuất, cung cấp các sản phẩm điện, điện tử là rất hạn chế, coi như chưa đáp ứng được các nhà sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh yêu cầu. Do vậy, đây là ngành đóng góp lớn về giá trị sản xuất nhưng chủ yếu vẫn là lắp ráp tại địa phương mà doanh nghiệp trong tỉnh cũng như doanh nghiệp cả nước chưa tham gia vào cung ứng các linh kiện cho sản phẩm hoàn chỉnh của các công ty đa quốc gia yêu cầu.

          + Đối với ngành công nghiệp dệt may, da giày: chủ yếu là các doanh nghiệp của tỉnh, một số doanh nghiệp may Hàn Quốc, Trung Quốc. Ngành này đóng góp về lao động và giá trị sản xuất khá nhưng chủ yếu là gia công lắp ráp, chưa tham gia vào chuỗi giá trị.

Để khắc phục những hạn chế và tiếp tục phát triển bền vững với các nhóm ngành trên, tỉnh cần tập trung thực hiện một số giải pháp chính: (1). Ưu tiên các ngành công nghiệp trọng điểm: Chế tạo linh kiện và lắp ráp điện tử, cơ khí và gia công kim loại, chế biến nông sản, thực phẩm tiêu chuẩn quốc tế, công nghiệp hỗ trợ, tạo tiền đề cho ngành công nghiệp phần mềm, hoá dược, công nghiệp ứng dụng công nghệ nano, sinh học. (2). Tăng cường các hoạt động hợp tác quốc tế, xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại, tiếp cận thị trường độc lập hoặc trong khuôn khổ Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia. Hỗ trợ các DN thành lập các chi nhánh, văn phòng đại diện của DN hoặc các trung tâm thương mại ở nước ngoài để tìm hiểu về nhu cầu, thị hiếu của thị trường, quảng bá sản phẩm, thương hiệu và ký kết hợp đồng, tổ chức tiêu thụ sản phẩm. Cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác những thông tin kinh tế - xã hội, quy hoạch, định hướng đầu tư giúp cho doanh nghiệp thấy được những lợi ích từ môi trường đầu tư của tỉnh. Đây là một giải pháp quan trọng và có chọn lọc để thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế nhằm phát triển công nghiệp bền vững. Tập trung thu hút các nhà đầu tư tiềm năng từ Nhật Bản, Hàn Quốc; các tập đoàn, tổng công ty lớn trong nước như Vingroup; FLC... (3). Tập trung phát triển một số loại hình dịch vụ hỗ trợ cho lĩnh vực công nghiệp, trong đó hoàn thành xây dựng Trung tâm Logistic thành phố Bắc Giang, với đầy đủ hệ thống kho dự trữ, chế biến, kho ngoại quan và thúc đẩy, gắn kết công nghệ thông tin trong Logistics, đặc biệt là thủ tục hải quan.

                                                                                                                                                      THÂN HÀO - VPS

 

Tin liên quan